
Please use this identifier to cite or link to this item:
https://data.ufl.udn.vn/handle/UFL/1063
Full metadata record
DC Field | Value | Language |
---|---|---|
dc.contributor.advisor | Nguyễn, Ngọc Tuyền | - |
dc.contributor.author | Nguyễn, Trần Thảo Nhi | - |
dc.date.accessioned | 2025-03-04T07:53:44Z | - |
dc.date.available | 2025-03-04T07:53:44Z | - |
dc.date.issued | 2023 | - |
dc.identifier.uri | https://data.ufl.udn.vn/handle/UFL/1063 | - |
dc.description.abstract | Trước sự tác động của làn sóng toàn cầu hóa, ngoài giao lưu kinh tế, chính trị thì giao lưu văn hóa, xã hội, ngôn ngữ giữa các quốc gia và các vùng lãnh thổ trên thế giới cũng là một việc thiết yếu. Giao lưu văn hóa là sợi dây nối kết các nền văn hóa trên thế giới, hướng tới sự phát triển bền vững mối quan hệ gắn bó giữa các quốc gia, dân tộc. Trong giao lưu văn hóa toàn cầu, Giao lưu văn học đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các nền văn hoá lại gần nhau. Văn học phản ánh hiện thực, phản ánh con người trên mọi phương diện của cuộc sống; văn học còn là chiếc gương phản chiếu đời sống văn hóa, tình cảm, tư duy và những diễn biến nội tâm của con người. Vì vậy, khi đọc một tác phẩm được dịch từ một ngôn ngữ khác, đến từ một vùng văn hóa khác, độc giả của vùng văn hóa đích có thể tìm hiểu được bối cảnh xã hội, đời sống sinh hoạt thường ngày cũng như những lối tư duy, suy nghĩ mới lạ, khác biệt của con người ở vùng văn hóa nguồn. Thông qua các tác phẩm dịch thuật văn học, chúng ta có thể làm sâu sắc thêm sự hiểu biết của bản thân về các nền văn hóa đa sắc, đa dạng trên thế giới. Từ đây, vai trò của dịch thuật văn học ngày càng trở nên quan trọng bởi nó được xem như là chiếc cầu nối giữa các nền văn học trên thế giới. Tuy nhiên, quá trình xây dựng chiếc cầu này luôn không phải là một điều dễ dàng. Vị thế của dịch thuật ngày càng được coi trọng, vị thế của dịch giả theo đó cũng được đề cao hơn, nhưng cũng đồng nghĩa với việc yêu cầu đối với dịch giả ngày càng nhiều hơn, khắt khe hơn và mang tính hệ thống hơn. Dịch giả không chỉ đơn giản sử dụng kiến thức ngôn ngữ để dịch nguyên từng chữ từ văn bản nguồn, mà còn phải vận dụng những kiến thức ngoài ngôn ngữ để có thể kết nối tác giả và văn bản nguồn với độc giả của văn bản đích. Dịch giả phải đảm bảo truyền tải được ý đồ của tác giả, đảm bảo độc giả ở vùng văn hóa đích cũng nhận ra được thông điệp và giá trị thẩm mỹ mà tác giả gửi gắm thông qua tác phẩm. Vì vậy, quá trình dịch thuật bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố, bao gồm cả những yếu tố bên trong và bên ngoài ngôn ngữ. Tuy nhiên, không phải dịch giả nào cũng có thể cho ra một bản dịch chất lượng và đáp ứng tất cả những yêu cầu nêu trên. Bởi lẽ, việc giúp cho người thuộc vùng văn hóa đích có thể tiếp cận nội dung của văn bản nguồn – vốn được viết bằng một ngôn ngữ mà họ không hiểu chưa bao giờ là một điều dễ dàng. Hơn nữa, tùy vào những điều kiện khách quan khác nhau mà khả năng phán đoán và nhận biết các lỗi dịch thuật của người đọc là khác nhau. Một bản dịch không tốt, có nhiều lỗi dịch thuật có thể khiến người đọc hiểu sai nội dung mà văn bản nguồn muốn truyền tải. Điều này đặt ra một vấn đề đó là phải có những phương pháp cụ thể để đánh giá chất lượng một văn bản dịch. Giao lưu văn học là một phần quan trọng trong giao lưu văn hoá giữa các đất nước, các khu vực với nhau. Việt Nam – Hàn Quốc cũng vậy, lĩnh vực giao lưu văn học cũng được xem là một trong những lĩnh vực quan trọng trong quan hệ giao lưu, hợp tác hữu nghị giữa hai nước. Vì vậy, rất nhiều tác phẩm văn học Hàn Quốc đã được dịch, giới thiệu và nhận được sự ủng hộ tích cực đến từ các độc giả Việt Nam. Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về việc đánh giá các văn bản dịch thuật văn học Hàn – Việt. Xuất phát từ những lý do này, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu những lỗi dịch thuật trong bản dịch "Cảm ơn tất cả" của dịch giả Dương Thanh Hoài dịch từ tác phẩm "모두 깜언" của tác giả 김중미”. | en_US |
dc.description.tableofcontents | STT VĂN BẢN NGUỒN VĂN BẢN DỊCH PHÂN LOẠI LỖI Loại hình lỗi Cụ thể 1 아침 햇살을 받은 보랏빛 붓꽃이 서늘하게 예쁘다. Những bông diên vĩ sắc tím dưới ánh ban mai đẹp đến nao lòng. Lỗi dịch sai Từ vựng 2 할머니는 고주 모를 심다가 틈틈이 허리를 펴고 할아버지 무덤을 건너다보며 무릎을 주물렀다. Bà đang trông những cây ớt giống thỉnh thoảng lại đứng lên duỗi thẳng lưng rồi đi về phía bên mộ ông ngồi bóp bóp gối. Lỗi dịch sai Từ vựng 3 그렇다고 시맨트 공구리 치듯이 그렇게 하믄 어떡하나? Nếu thế thì xây xi măng cho chắc chắn chứ làm kiểu gì thế này? Lỗi dịch sai Từ vựng 4 할머니가 신경질을 내고 있는데 (4.1) 주책없는 작은아빠가 할머니한테 다가가더니 불 지르는 소리를 하고 만다 (4.2). Bà đang hét ầm lên (4.1) mà chú vẫn không nhận biết được tình hình cứ lại gần và lưỡng lự nói (4.2). (4.1) Lỗi dịch sai Từ vựng (4.2) Lỗi dịch sai Từ vựng 5 이 망할 놈의 자슥아 (5.1), 니 어머니는 어젯밤에도 허리가 아프고 무릎이 쑤셔서 한잠도 못 잤는데, 새파랗게 젊은 마누라 (5.2) 걱정이냐? Cái thằng vô dụng kia (5.1), mày không biết mẹ mày đêm qua cũng đau lưng, đầu gối sưng lên chẳng chợp mắt được chút nào mà lại đi lo cho con vợ còn khỏe văm văm thế kia (5.2)? (5.1) Lỗi ngữ dụng (5.2) Lỗi dịch sai Từ vựng 6 우리 작은 아빠, 정말 못 말린다. Chú đúng là lúc nào cũng nóng vội. Lỗi dịch sai Từ vựng 7 어어, 용민아, 용우 잘 봐야지. Ơ, ơ, Yong Min, Yong Woo, phải nhìn cho kỹ vào chứ. Lỗi dịch sai Ngữ pháp 8 그런데 용민이가 제 아빠의 뒤통수를 친다. Nhưng Yong Min lại hét lên sau gáy bố nó. Lỗi dịch sai Từ vựng 9 작은엄마가 작은아빠한테 눈을 흘긴다. Thím khẽ đưa mắt về phía chú. Lỗi dịch sai Từ vựng 10 용민이와 용우는 횐나비를 쫓아 찔레꽃 (10.1) 넝쿨 아래 냇가로 내려간다 (10.2). Yong Min và Yong Woo đuổi theo chú bướm trắng đi xuống dưới giàn hoa (10.2) tường vi (10.1). (10.1) Lỗi dịch sai Từ vựng (10.2) Lỗi dịch sai Ngữ pháp 11 그렇지만 할머니가 작은엄마에게 들어갈고 할 때까지만 좀 기다리면 좋은 텐데 (11.1), 언제가 작은 아빠가 설레발을 쳐서 할머니 속을 들쑤신다 (11.2). Nhưng đáng ra tốt nhất là (11.1) chú nên đợi một chút đến khi bà bảo thím vào nghỉ nhưng lúc nào chú cũng cuống quýt cả lên khiến cho bà cảm thấy chạnh lòng (11.2). (11.1) Lỗi dịch gượng Ngữ pháp (11.2) Lỗi dịch sai Từ vựng 12 초등학교에 입학할 무렵 (12.1), 건평리에서 고구마 농장을 하는 (12.2) 박 씨 아저씨가 스무 살이나 (12.3) 어린 캄보디아 여자랑 재혼했다며 어른들이 수군거렸을 때쯤이었다. Đó là khi những người lớn trong làng xì xào bàn tán về chú Park, người chưa học hết cấp 1 (12.1), chủ trang trại khoai lang (12.2) ở thôn Gunpyeong tái hôn với cô gái người Campuchia ít hơn hai mươi tuổi (12.3). (12.1) Lỗi dịch sai Ngữ pháp (12.2) Lỗi dịch sai Từ vựng (12.3) Lỗi dịch sai Ngữ pháp 13 읍에 나가면 터미널이나 시장에서 우리와 좀 다르게 생긴 젊은 아기 엄마들과 마주쳤다. Khi đi ra thị trấn thì tôi cũng đã từng gặp những bà mẹ có bề ngoài hơi khác với chúng tôi ở bến xe hay ở chợ. Lỗi dịch gượng Biểu hiện 14 그러면서 그때까지 부르던 삼촌 대신 이제부터는 작은아빠라 부르라고 했다. Lỗi lược bỏ 15 할머니는 작은아빠가 베트남에서 찍어 온 결혼 사진을 보며 연방 좋아라 하는데 (15.1), 내 마음에는 큰 구멍이 뚫렸다 (15.2). Bà đã rất vui (15.1) khi nhìn thấy những bức ảnh chú chụp mang về còn tôi cảm giác như ai đó xuyên một lỗ to trong trái tim mình (15.2). (15.1) Lỗi dịch sai Ngữ pháp (15.2) Lỗi dịch gượng Biểu hiện 16 맞선 본 게 틀어질 때마다 (16.1) 할머니가 총각 귀신으로 늙어 죽을 셈이냐고 닦달을 해도 작은아빠는 싱글벙글하며 (16.2) 유정이만 있으면 상관없다고 말했었다. Dù bà cằn nhằn hỏi chú định ở vậy rồi chết già sao mỗi khi chú trốn đi gặp mặt (16.1) thì chú đều cười cười (16.2) bảo chỉ cần có Yu Jung ở bên cạnh thì chú không quan tâm. (16.1) Lỗi dịch sai Từ vựng (16.2) Lỗi dịch sai Từ vựng 17 만난 지 단 나흘 만에 식을 올리고 장모님한테 인사까지 드리고 왔다는 작은아빠는 그 뒤 석 달 동안 마치 넋이 나간 사람처럼 보였다. Gặp chỉ có bốn ngày đã làm lễ cưới, chú còn gặp cả mẹ vợ trước khi quay về nhà và trong suốt ba tháng sau đó chú trông như người mất hồn. Lỗi dịch gượng Biểu hiện 18 깜언은 베트남 말로 고맙다는 뜻이란다. Cảm ơn là từ tiếng Việt dùng để cảm ơn. Lỗi ngữ dụng 19 작은아빠는 작은엄마가 마음이 변할까 봐 똥끝이 다 타들어 사는 줄 알았다고 했다. Lỗi lược bỏ 20 작은아빠와 함께 공항에 가서 (21.1) 만난 작은엄마는 키가 작고 마른 체구에 동그랗고 까무잡잡한 얼굴을 한 앳된 (21.2) 아가씨였다. Người thím tôi gặp ở sân bay là một cô gái trẻ măng, thấp, gầy, khuôn mặt tròn đen đúa (20.2). (20.1) Lỗi lược bỏ (20.2) Lỗi dịch sai Từ vựng 21 난는 작은엄마가 코는 더 뭉툭하고 얼굴은 새까맣고 입술은 툭 튀어나온 두꺼비 같은 여자이길 바랐다. Tôi đã mong rằng người đó sẽ giống như con quỷ với chiếc mũi to, khuôn mặt đen sì, môi trề ra ngoài. Lỗi dịch sai Từ vựng 22 상토를 준비하고 모판을 만드느라 (22.1) 마을 사람들이 번갈아 가며 품앗이를 하는 때였다 (22.2). Đó là khi mọi người tập hợp lại (24.2) để xớt đất chuẩn bị lên luống (22.1). (22.1) Lỗi dịch sai Từ vựng (22.2) Lỗi dịch sai Từ vựng 23 서른일곱 살인 작은아빠를 스무 살인 작은엄마가 오빠라고 부르는 걸 들으면 소름이 쫙 돋았다 (23.1). 그러나 작은아빠는 입이 귀에 걸려 내려(23.2)올 줄 몰랐다. Khi nghe người thím mới hai mươi tuổi gọi chú đã ba bảy tuổi là oppa da gà nổi khắp người tôi (23.1). Vậy mà không hiểu sao chú lại cười đến như sắp rách cả miệng (23.2). (23.1) Lỗi dịch gượng Biểu hiện (23.2) Lỗi dịch gượng Biểu hiện 24 그리고 우리 면의 친환경 작목반 총무 일도 했다. Và chú cũng làm phó hội trưởng hội canh tác thân thiện môi trường trong xã tôi. Lỗi dịch sai Từ vựng 25 말 근육 광수, 우윳빛 우주 Kwangsu bắp ngựa, Woo Ju trắng sữa Lỗi dịch gượng Từ vựng 26 명의는 종친회이지만 (26.1) 할머니가 시집와서 손수 돌을 고르고 거름을 대며 (26.2) 일군 밭이라 (26.3) 아무도 그 밭에 대해 이래 라저래라 하지 않는다. Trên danh nghĩa thì vẫn là đất của làng (26.1) nhưng từ ngày bà về nhà chồng đã trực tiếp lựa từng viên đá đắp ruộng (26.2), bón phân và nó là ruộng hoang (26.3) nên không ai nói gì về mảnh ruộng đó. (26.1) Lỗi dịch sai Từ vựng (26.2) Lỗi dịch sai Từ vựng (26.3) Lỗi dịch sai Từ vựng 27 5월부터 날이 한여름처럼 더워지자 (27.1) 할머니는 작은엄마를 데리고 (27.2) 새벽같이 일을 나섰다. Bắt đầu từ tháng Năm mà trời đã nắng như giữa hè (27.1) nên bà và thím đi ra đồng từ sáng sớm (27.2). (27.1) Lỗi dịch sai Ngữ pháp (27.2) Lỗi dịch sai Ngữ pháp 28 사실 작은엄마도 불쌍하기가 나 못지않다. Nhưng những vất vả của thím không chỉ dừng lại ở đó. Lỗi dịch sai Từ vựng 29 그러자 작은엄마가 얼른 무거운 몸을 움직이며 말했다. Lỗi lược bỏ 30 엄마, 내가 비빔국수 할게요. 마싯게 할게요 Mẹ, con sẽ nấu mì trộn. Con sẽ làm thật ngon. Lỗi ngữ dụng 31 작은엄마는 작은아빠한테 눈을 흘기고는 (31.1) 뒤뚱뒤뚱 (31.2) 산실로 올라갔다. Thím khẽ đưa mắt (31.1) nhìn chú rồi nặng nề (31.2) leo lên đường núi. (31.1) Lỗi dịch sai Từ vựng (31.2) Lỗi ngữ dụng 32 정수리가 햇볕 때문에 뜨거워지자 속까지 부글부글 끓는다. Ánh nắng chói chang trên đồng khiến cho đầu có cảm giác muốn nổ tung. Lỗi dịch sai Từ vựng 33 그런데 올해는 할머니가 비닐하우스에다 뿌려 놓았던 고추씨가 안 좋았던지 싹(33.1)이 잘 트지 않는 바람에 모종을 다시 키워 심느라 늦었다 (33.2). Nhưng năm nay không hiểu do bà gieo hạt trong nhà nilong hay hạt giống không tốt (33.1) mà mầm không lên, phải gieo lại nên mới bị trễ (33.2). (33.1) Lỗi dịch sai Ngữ pháp (33.2) Lỗi dịch sai Ngữ pháp 34 금세 답이 온다. Tin nhắn đến dồn dập. Lỗi dịch sai Từ vựng 35 잘나셨습니다요, 농촌 총각 Làm tốt lắm, cậu thanh niên nông thôn. Lỗi dịch gượng Từ vựng 36 정말이다. Lỗi lược bỏ 37 아마 우리 반 여자애들 모두 그럴 것이다. Và có lẽ một nửa con gái lớp tôi đều như vậy. Lỗi dịch sai Từ vựng 38 우주는 우리 마을에 있는 성공회 교회 신부님의 아들이다. Lỗi lược bỏ 39 그래서 아직도 결혼식이나 칠순 잔치 같은 우리 마을의 온갖 대소사는 성공회 교회에서 치른다. Chính vì vậy hầu hết các việc lớn nhỏ như kết hôn hay thượng thọ bảy mươi đều tổ chức ở nhà thờ Anh giáo này. Lỗi lược bỏ 40 과수는 자기처럼 축구를 좋아하는 애가 왔으면 좋겠다고 했고 나랑 지회는 무조건 잘생긴 애가 오길 바랐다. Kwang Su nói rất thích người sắp đến là người thích đá bóng như cậu ta là được còn tôi và Ji Hee chỉ mong đó là một đứa đẹp trai. Lỗi dịch gượng Ngữ pháp 41 우주는 영락없는 도시 애였고 우리는 그저 촌 애들이었다 Woo Ju là đứa trẻ thành phố một trăm phần trăm còn chúng tôi nhà quê đặc sệt. Lỗi dịch gượng Từ vựng 42 광수는 종아리 근육이 (42.1) 다른 애들보다 더 단단하고 알퉁이 툭 튀어나왔다 (42.2). Chân (42.1) của Kwang Su chắc hơn hẳn những đứa khác, lại còn có cả bắp nữa (42.2). (42.1) Lỗi dịch sai Từ vựng (42.1) Lỗi dịch sai Từ vựng 43 여자는 무조건 근육이 발달한 남자(43.1)를 좋아한다는 잘못된 환상에 사로잡혀 있다(43.2). Tôi cố lôi cậu ta ra khỏi ảo tưởng (43.2) sai lầm rằng con gái thích những người con trai có cơ bắp lớn (43.1). (43.1) Lỗi dịch gượng Từ vựng (43.2) Lỗi dịch sai Ngữ pháp 44 6학년 때 담임 선생님은 광수가 발이 빠르고 지구력이 강하다며 중학교는 축구부가 있는 읍으로 나가라고 추천했다. Vào năm lớp 6 thầy giáo chủ nhiệm bảo chân Kwang Su nhanh và sức bền lại tốt nên thầy gợi ý nên cho Kwang Su học ở trường cấp 2 có đội bóng đá. Lỗi dịch sai Từ vựng 45 정말 끈질기다. Thật là phiền phức. Lỗi dịch sai Từ vựng 46 한번 속아 보자는 마음으로 물었다. Thử đợi xem cậu ta định làm gì nữa nào. Lỗi dịch sai Từ vựng 47 자기들이 뭔데 내 의사는 묻지도 않고 나를 만나고 싶다느니 만나도 된다느니 하는 거야? Họ là gì vậy mà không hỏi ý kiến tớ đã bảo muốn gặp, rồi thì gặp cũng được? Lỗi dịch sai Ngữ pháp 48 난는 소리를 버럭 지르며 전화를 끊어 버렸다. Tôi hét ầm ĩ rồi dập điện thoại. Lỗi dịch sai Từ vựng 49 살문리는 꽃 대궐 Vương quốc hoa thôn Salmun Lỗi dịch sai Từ vựng 50 날이 너무 일찍 더워져서 나물이 웃자랐어. Giời nóng sớm quá làm cho cây cứ èo uột. Lỗi dịch sai Từ vựng 51 할머니는 장에 가지고 나갈 나물을 다듬다 말고 한숨을 쉬었다. Bà chẳng buồn tỉa tót đống rau định mang ra chợ bán mà thở dài. Lỗi dịch sai Ngữ pháp 52 이틀 동안 뜯은 나물이 내다 팔 만큼 좋지 않은 모양이다. Chỗ rau hái trong hai ngày có vẻ như bị héo rửa không thể mang ra chợ bán. Lỗi dịch sai Từ vựng 53 우리 할머니는 마을에서도 알아주는 나물 박사다. Bà là người hái rau giỏi nhất trong làng chúng tôi. Lỗi dịch sai Từ vựng 54 할머니는 가난한 집에 시집와서 (54.1) 먹고살기 위해 (54.2) 봄이면 열심히 산을 탔단다. Bà lấy chồng nhà nghèo (54.1) nên để tồn tại (54.2) mỗi lần xuân sang bà đều chăm chỉ lên núi hái rau. (54.1) Lỗi dịch gượng Biểu hiện (54.2) Lỗi dịch gượng Từ vựng 55 그때는 우리 마을 여자들은 누구나 들로 산으로 다니며 봄나물을 (55.1) 뜯었다지만 요즘은 봄이 돼도 (55.2) 나물을 하러 산에 오르는 마을 사람이 별로 없다. Thời đó phụ nữ trong làng tôi ai cũng đi lên núi hái rau (55.1), nhưng bây giờ mỗi khi xuân đến (55.2) hầu như chẳng ai có ý định lên núi nữa cả. (55.1) Lỗi dịch sai Từ vựng (55.2) Lỗi dịch sai Ngữ pháp 56 우리 집은 진강산과 덕정산 골짜기에 있어 (56.1) 봄이 되면 집 주변에도 (56.2) 나물이 흔하다. Nhà tôi là thung lũng (56.1) nằm giữa núi Deokjung và núi Jingang nên mỗi khi xuân đến có rất nhiều loại rau mọc. (56.1) Lỗi dịch sai Từ vựng (56.2) Lỗi lược bỏ 57 덕정산과 진강산은 우리 마을을 평풍처럼 감싸며 마주 보고 있다. Núi Deokjung và núi Jingang giống như tấm bình phong ôm trọn lấy làng của chúng tôi. Lỗi lược bỏ 58 그래서 진강산에 오르면 (58.1) 북동쪽으로는 멀리 북한 개풍이 훤히 보이고, 남쪽으로는 너른 들판과 (58.2) 마니산이 마주 보인다. Chính vì vậy có thể nhìn thấy Kepyong, Bắc Hàn mờ mờ ở xa, ở phía Nam là những cánh đồng (58.2) và đối diện là núi Mani. (58.1) Lỗi lược bỏ (58.2) Lỗi lược bỏ 59 서쪽으로는 화도면과 석보도도 보인다. Phía Tây nhìn thấy xã Hwado và đảo Seokmo. Lỗi dịch gượng Ngữ pháp 60 원래 종개리 뒷산과 건평리 어딘가에도 용마 발자국이 있다는데 나는 진강산 꼭대기에 있는 발자국만 보았다. Người ta nói rằng kể cả sau núi ở xã Jongge hay xã Gunpueong ở đâu cũng có dấu chân của long mã nhưng tôi chỉ nhìn thấy mỗi dấu chân của nó trên đỉnh núi Jingang. Lỗi dịch sai Từ vựng 61 산수유를 닮은 생강나무가 겨자색 꽃망울을 터뜨려 산언저리를 은은하게 물들이기 시작하면 (61.1) 계곡을 따라 (61.2) 물오리나무가 연둣빛 뭉게구름을 피워 낸다 (61.3). Cây an tức hương, loại cây gần giống cây thù du bắt đầu nở rộ nhuộm khu vực xung quanh núi với màu vàng rực (61.1) thì những câu tống quán sủ cũng bắt đầu chuyển sang màu xanh đậm, san sát nhau (61.3). (61.1) Lỗi dịch sai Từ vựng (61.2) Lỗi lược bỏ (61.3) Lỗi dịch sai Từ vựng 62 조팝나무가 (62.1) 하얀 꽃송이를 피워 올리고 개복숭아꽃이 화려하게 피어날 때쯤이면 이번에는 왕벚꽃이 진강산 산마루 턱밑까지 (62.2) 연분홍빛 뭉게구름을 피웠다가 연둣빛 구름에 자리를 내주기 (62.3)) 시작한다. Khi hoa cúc (62.1) nở những bông trắng muốt, hoa đào rừng nở rộ cũng là lúc từ đỉnh núi đến những sườn núi (62.2) những cụm hoa anh đào như những đám mây hồng thay thế những đám mây xanh trên trời (62.3). (62.1) Lỗi dịch sai Từ vựng (62.2) Lỗi dịch sai Từ vựng (62.3) Lỗi dịch sai Từ vựng 63 봄이 무르익을 무렵 (63.1), 마을 어귀에 있는 버스 정류장에서 올려다 보면 우리 집은 산벚꽃 구름 위에 둥둥 떠 있는 것처럼 보인다 (63.2). Vào giữa mùa xuân (63.1), nếu đến chỗ bến xe buýt ở lối đi vào làng thì nhìn nhà tôi như nổi lên giữa những đám mây hoa anh đào rừng (63.2). (63.1) Lỗi dịch sai Từ vựng (63.2) Lỗi dịch sai Từ vựng 64 진강산과 덕정산 사이 계곡에서부터 흘러 내리는 용내천은 (64.1) 용이 꿈틀거리듯 (64.2) 마을을 몇 차례나 휘감아 돌기 때문에 (64.3) 마을 어귀에서 우리 집까지 올라오는 길에는 다리가 네 개나 된다. Suối Yongne (64.1) có nghĩa là rồng trườn (64.2), con suối chảy vòng quanh làng (64.3) nên từ chỗ đường vào làng đến nhà tôi có đến bốn cây cầu. (64.1) Lỗi lược bỏ (64.2) Lỗi dịch gượng Từ vựng (64.3) Lỗi lược bỏ 65 마을 어귀에서 용내천을 따라 올라오다가 다리를 하나 건너면 대안 학교와 마을로 들어가는 갈래길이 나온다. Từ chỗ đường vào làng, men theo con suối Yongne đi qua chiếc cầu đầu tiên thì sẽ thấy trường Daean và con đường nhỏ rẽ vào làng. Lỗi dịch sai Từ vựng 66 거기서 마을 쪽으로 접어들어 야트막한 언덕을 오르면 느티나무가 한 그루 서 있다. Từ đó đi thẳng vào làng leo lên một con dốc nhỏ thì sẽ có một cây du zelkova. Lỗi dịch sai Từ vựng 67 마을회관에서 20 미터쯤 이어 지는 오르막길 중간에는 정자나무가 있다. Giữa con dốc cách hội trường làng khoảng hai mươi mét có một cây cổ thụ. Lỗi lược bỏ 68 우리 마을 정자나무는 육십 년쯤 된 아름드리 느티나무다. Cây cổ thụ làng tôi là cây du Zelkova khoảng sáu mươi năm tuổi. Lỗi lược bỏ 69 정자나무에서 조금 더 올라가면 살문리 삼거리가 나오고 (69.1) 그 삼거리를 사이에 두고 돌담을 따라 아담한 집들이 옹기종기 모여 있는 그곳에 성공회 교회가 있다 (69.2). Cách cây cổ thụ không xa là ngã ba thôn Salmun (69.1), men theo bức tường đá gần ngã ba sẽ thấy có mấy ngôi nhà nhỏ xinh nhấp nhô, nơi đó chính là nhà thờ Anh giáo (69.2). (69.1) Lỗi dịch sai Từ vựng (69.2) Lỗi dịch sai Ngữ pháp 70 할머니 말로는 원래 우리 집이 있는 곳이 집터는 아니 었단다. Theo như bà nói thì ngay từ đầu nhà tôi cũng không phải ở chỗ này. Lỗi dịch sai Từ vựng 71 할아버지가 임야를 개간해 돼지우리를 지었던 곳인데 산너머에 있는 해병대 사격장 때문에 돼지가 자꾸 유산을 해서 결국 돼지 치는 것을 포기하고 집을 지었다고 했다. Ông khai hoang rừng và xây chuồng nuôi lợn rừng ở đây. Nhưng vì trường bắn của binh đoàn Hải quân lục chiến ở phía bên kia sườn núi mà lợn thường xuyên bỏ đi, cuối cùng ông bỏ ý định nuôi lợn và xây nhà luôn ở đây. Lỗi dịch sai Từ vựng 72 겨울밤에는 (72.1) 내 방 창문으로 오리온자리가 뜨고 봄 여름 가을에는 달도 훤히 보인다. Mùa đông chòm sao Orion (Thợ Săn) hiện ngay bên cửa sổ phòng tôi (72.2). Mùa xuân, mùa hè, mùa thu cũng nhìn rõ ánh trăng (72.3). (72.1) Lỗi lược bỏ (72.2) Lỗi dịch gượng Ngữ pháp (72.3) Lỗi dịch gượng Ngữ pháp 73 어렸을 때는 멋대가리 없이 quán dụng ngữ 크기만 한 창문이 chỉ được cái to thôi (73.1) 무섭고 싫었는데 이제는 침대에 누워서도 chỉ cần nằm trên giường (73.2) 창밖을 (73.3) 볼 수 있어 좋다. Khi còn bé tôi thấy sợ vì cửa sổ to lại không có khung (73.1) nhưng bây giờ tôi lại thích vì có thể nằm trên giường (73.2) ngắm nhìn ra bên ngoài (73.3). (73.1) Lỗi dịch sai Từ vựng (73.2) Lỗi dịch sai Ngữ pháp (73.3) Lỗi dịch sai Từ vựng 74 아침 숲의 서늘하고 축축한 기운이 살갗에 닿는 느낌이 퍽 상쾌하다. Luồng khí buổi sáng mát mẻ và vẫn còn hơi mát từ những giọt sương đêm của rừng khi chạm vào da tạo nên một cảm giác sảng khoái vô cùng. Lỗi dịch gượng Biểu hiện 75 산길을 벗어나 마을길로 접어들자마자 옆 논 풀숲으로 뭔가가 푸드덕거리며 몸을 숨긴다. Ngay khi vừa ra khỏi con đường núi dẫn xuống làng tôi thấy con gì đó nấp mình trong bụi cỏ ven ruộng. Lỗi dịch sai Từ vựng 76 얼핏 해오라기의 댕기 같은 것을 본 것 같다. Nhin qua có vẻ như là một con diệc trắng. Lỗi lược bỏ 77 "해오라기." "해라오기?" “Con diệc trắng.” “Con tiệc trắng.” Lỗi ngữ dụng 78 자. 이젠 붙여서 해봐. Nào, bây giờ nói nhanh đi. Lỗi dịch sai Từ vựng 79 할머니가 냇가 옆 건우네 논의 못자리를 들여다보며 혼잣말을 한다. Bà nhìn thấy luống mạ ở ruộng bên kia đường rồi nói một mình. Lỗi dịch sai Từ vựng 80 소쩍새 울면 참깨 심고, 꾀꼬리 울면 고추 모 심고, 뻐꾸기 울 면 콩 심고, 보리 베고, 모 심고, 피 뽑고 그러다 보만 여름 가고, 가을 오고, 겨울 오고. Chim cúc cu gáy là trồng vừng, chim vàng anh hót là trồng ớt, chim cu gáy thì trồng đỗ, gieo lúa mì, gieo mạ rồi nhổ cỏ, cứ thế mùa hè qua, thu đến, đông tới. Lỗi dịch sai Từ vựng 81 살날이 창창한 너나 꾀꼬리 소리 들으면 좋지. Vì ngày tháng của cháu còn dài nên nghe tiếng vàng anh hót thì thấy thích thú. Lỗi dịch sai Từ vựng 82 열여섯이나 된 나는 그런 용민이한테 샘이 나서 할머니 손에 매달려 어리광을 부리는 애한테 괜한 트집을 잡는다. Tôi mười sáu tuổi mà vẫn thấy ghen tị với Yong Min nên bắt đầu bắt lỗi kiểu nũng nịu của nó. Lỗi lược bỏ 83 할머니가 무심코 한 말에 나는 또 한 번 가슴에 멍이 들고, 할머니는 움찔한다. 그리고 눈치 빠른 용민이가 쐐기를 박는다. Lời nói buột miệng của bà lại một lần nữa khoét sâu trái tim tôi. Bà khẽ nhún vai, Yong Min ranh mãnh thêm vào. Lỗi dịch sai Từ vựng 84 나는 할머니와 용민이를 제치고 앞으로 나와 걸었다. Tôi bước lên phía trước để không phải nhìn thấy và với Yong Min. Lỗi dịch sai Từ vựng 85 용민이가 우주의 뒷모습을 보며 투덜거리자 할머니가 용민이에게 물었다. Lỗi lược bỏ 86 무료인 데다 성적에 도움이 되고 재미도 있으니 나쁠 건 없지만 이번에 새로 온 국어 선생님은 도무지 마음에 안 든다. …vừa miễn phí, vừa giúp tăng điểm, vừa thú vị chẳng có điểm kém nào cả. Nhưng tôi không thích giáo viên Ngữ văn mới lần này. Lỗi dịch gượng Biểu hiện 87 자기는 명문대를 다니다 군대에 왔다고 걸핏하면 자랑이고, 수업도 완전 자기 맘대로다. Hở một tí là chú đó lại khoe mình đang theo học trường danh tiếng, buổi học cũng hoàn toàn làm theo ý thích của chú ta. Lỗi lược bỏ 88 반항하려는 것이 아니라 혹시 선생님이 내 입술 위의 흉터를 보고 뭔가 눈치채길 바랐기 때문이다. 그러나 역시 이 군인 선생님은 둔하기 짝이 없다. Lỗi lược bỏ 89 아이들 몇이 따라 손뼉을 치다 멈췄다. Mấy đứa bắt chước thầy vỗ tay mấy cái rồi dừng lại. Lỗi dịch sai Từ vựng 90 나는 입술이 코 바로 밑까지 갈라지고 입천장마저 갈라진 채로 태어났다. Tôi được sinh ra với vết hở ngay dưới mũi đến miệng và bị hở cả vòm miệng. Lỗi dịch sai Từ vựng 91 그런 소문이 돌 만했던 것은, 우리 엄마는 아버지가 집을 나가 공장 생활을 할 때 만난 외지 사람이었기 때문이다. Người ta đồn rằng khi bố tôi làm việc ở nhà máy không có nhà thì mẹ tôi có người khác. Lỗi dịch sai Từ vựng 92 의사가 구순구개열이 생기는 건 꼭 성병 때문이 아니라 임신 초기에 무심코 먹은 감기약이나 영양실조가 원인일 수 있다고 말했지만 아버지의 의심은 날이 갈수록 커져 갔다. Bác sĩ đã nói bệnh hở hàm ếch không nhất thiết là do bệnh đường tình dục gây ra mà cũng có thể do bất cẩn uống thuốc cảm hay thuốc bổ trong thời kỳ đầu mang thai, nhưng những nghi ngờ của bố ngày một lớn lên. Lỗi dịch sai Từ vựng 93 입천장과 입술이 갈라진 탓에 (93.1) 어차피 엄마 젖을 빨 수는 없었지만 엄마 품마저 잃어버린 나는 할머니 품에서 특수 젖꼭지가 달린 젖병으로 분유를 먹어야 했다 (93.2). Vòm miệng bị hở (93.1) nên tôi cũng không thể bú được sữa mẹ, nhưng tôi lại mất đi cả vòng tay của mẹ và tôi đã lớn lên trong vòng tay bà, phải ăn sữa ngoài bằng chiếc bình với núm vú đặc biệt (93.2). (93.1) Lỗi lược bỏ (93.2) Lỗi dịch sai Từ vựng 94 의사는 돌 무렵에는 입술 수술을 해야 한다고 했지만 할머니는 나를 병원에 데려갈 여력이 없었다. Bác sĩ bảo phải phẫu thuật môi một lần nữa vào lúc tôi một tuổi nhưng bà chẳng còn sức lực mà mang tôi đến bệnh viện. Lỗi dịch sai Từ vựng 95 그 말이 마음에 걸린 작은아빠는 그 뒤 일 년 만에 복직이 되어 되돌아간 일터를 버리고 다시 집으로 돌아오고 말았다. Vì lời nói đó của bác sĩ mà chú tôi chỉ quay trở lại làm việc có một năm rồi lại bỏ nơi việc và quay về nhà. Lỗi dịch sai Từ vựng 96 아버지가 의정부라는 데서 교통사고를 당했다는 소식이 온 것 은 초등학교 입학을 앞두고 있을 때였다. Tin bố bị tai nạn ở Uijeong-bu gì đó đến khi tôi chuẩn bị vào cấp 1. Lỗi dịch gượng Ngữ pháp 97 작은아빠는 내가 여섯 살 때부터 김포에 있는 언어 치료실에 데 려갔다. Từ năm tôi sáu tuổi, chú đã đưa tôi đến phòng luyện phát âm ở Kimpo. Lỗi dịch sai Từ vựng 98 사흘째 되던 날 (98.1), 광수가 나를 언청이라고 놀리던 목사 아들한테 (98.2) 주먹을 날렸다. Bốn ngày sau đó (98.1), Kwang Su đã đấm đứa con mục sư bảo tôi là sứt môi (98.2). (98.1) Lỗi dịch sai Từ vựng (98.2) Lỗi dịch gượng Ngữ pháp 99 삼 년 가까이 교정기를 끼고 불편함을 견뎌 (99.1) 낸 덕분에 합죽하던 윗입술과 흉터도 많이 감춰지고 (99.2) 이도 많이 교정되었다. Nhờ chịu đựng sự khó chịu của niềng răng (99.1) suốt ba năm mà môi trên của tôi không bị hở, vết sẹo cũng mờ dần (99.2) và răng cũng được chỉnh ngay ngắn hơn nhiều. (99.1) Lỗi dịch gượng Biểu hiện (99.2) Lỗi dịch gượng Biểu hiện 100 아직 콧구멍이 약간 짝짝이고 코끝도 약간 비뚤어졌지만 얼핏 봐서는 눈치 채지 못할 정도라고들 한다. Dù lỗ mũi vẫn không đều và phía đầu mũi hơi lệch nhưng nếu nhìn qua thì cũng không phát hiện ra. Lỗi dịch sai Ngữ pháp 101 그런데 느티나무 앞을 지날 때쯤 김광수가 기어코 내 성질을 건드리고 말았다. Nhưng khi đi đến trước cây du, Kwang Su lại động đến nỗi đau của tôi. Lỗi dịch sai Từ vựng 102 그러나 광수는 나의 아량 따위에는 관심이 없었다. Nhưng dường như Kwang Su không để ý gì đến những tính toán của tôi. Lỗi dịch sai Từ vựng 103 그러자 광수가 퉁명스럽게 말했다. Nhưng Kwang Su nói với giọng tỉnh bơ. Lỗi dịch sai Từ vựng 104 그 말에 지희도 참지 못하고 뒤를 돌아보며 소리쳤다. Nghe những lời đó Ji Hee cũng không chịu được chạy ra sau nó và hét lên. Lỗi dịch sai Từ vựng 105 우주와 지희가 달려들어 말리지 않았다면 아마 광수 팔뚝 하나쯤 부러뜨렸 올지도 모르겠다. Nếu Woo Ju và Ji Hee không chạy lại ngăn cản biết đâu đấy cũng có thể một chân Kwang Su đã bị bầm dập. Lỗi dịch sai Từ vựng 106 나는 고추 지지대를 집어 던지고 냅다 달리기 시작했다. Tôi bắt đầu chạy trong tay vẫn cầm cây gậy. Lỗi dịch sai Từ vựng 107 나는 어느 정도 마음에 준비를 하고 있었지만 영문을 모르는 작은엄마는 깜짝 놀라 밖을 내다보았다. Tôi thì phần nào đã chuẩn bị tinh thần rồi còn thím không biết gì cả nên ngạc nhiên đi ra ngoài. Lỗi dịch sai Từ vựng 108 걔가 논니니까 그러죠. 내 말 흉내 내면서 논녔단 말이에요. Tại nó trêu nên cháu mới thế chứ. Cháu nói nó cứ nhại lại để trêu. Lỗi ngữ dụng 109 광수 할머니가 내게 호통을 치자 복동이가 으르렁거린다. Nghe tiếng quát của bà Kwang Su, Bok Dong cũng rên ư ử. Lỗi dịch sai Từ vựng 110 “아이고, 우리 형님 오셨시겨?” 할머니 말에 광수 할머니가 뒤를 돌아보며 소리를 쳤다. Lỗi lược bỏ 111 할머니는 내게 하는 꾸중인지 혼잣말인지 분간이 안될 정도로 작게 중얼거리기만 했다. Bà cố tình nói để tôi nghe thấy hay chỉ định nói một mình mà bà khẽ lầm bầm. Lỗi dịch gượng Lỗi dịch sai Ngữ pháp 112 자기가 먼저 잘못해 놓고는 (112.1) 제 할머니 (112.2) 앞에서 괜히 내 편을 드는 척하는 게 더 괘씸했다 (112.3). Tự cậu ta nhận mình sai trước (112.1) và giả vờ bênh tôi trước mặt bà (112.2) càng làm cho tôi thấy khó chịu (112.3). (112.1) Lỗi dịch sai Ngữ pháp (112.2) Lỗi lược bỏ (112.3) Lỗi dịch sai Từ vựng 113 저녁 먹고 숙제를 하고 있는데 용민이가 슬그 머니 내 방으로 들어왔다. Khi ăn tối xong đang ngồi học bài thì Yong Min rón rén đi vào phòng tôi. Lỗi dịch sai Từ vựng 114 나쁜 뜻으로 놀린 거 아니야. Tớ đùa không có ý xấu Lỗi dịch gượng Từ vựng 115 정말 역겹다. Đúng là bó tay. Lỗi dịch sai Từ vựng 116 그리고 나 이런 유치한 거 더 싫어한다고 해. Và nói chị rất ghét mấy thứ trẻ con như vậy. Lỗi dịch sai Từ vựng 117 초등학교 때는 광수네 집에 송아지가 태어나면 우유를 먹여 주는 재미에 목장에 자주 갔었다. Khi học tiểu học tôi thích cho những con bê mới sinh uống sữa nên thường đến trang trại. Lỗi lược bỏ 118 어떨 때는 어 미소가 큰 젖통을 주체 못해 쩔쩔매는 모습이 가여워 보이기도 했다. Nhiều lúc nhìn con bò mẹ tỏ vẻ bất lực với bầu sữa của mình tôi cảm thấy thật tội nghiệp. Lỗi dịch sai Từ vựng 119 착유실의 커다란 스테인리스 통과 관, 까만 고무 호스를 보면 사람들이 소한테 못할 짓을 하는 것 같아 우유 먹기가 싫어졌다. Cứ nhìn thấy thùng và chiếc phễu to của máy vắt sữa, ống cao su màu đen là tôi lại thấy con người dường như đang làm điều không phải với bò nên tôi trở nên ghét uống sữa. Lỗi dịch gượng Ngữ pháp 120 송아지들이 젖꼭지를 어찌나 세게 빠는지 내 팔뚝이 쭉쭉 빨려 들어갈 것만 같았다. Chú bê con bú mạnh quá khiến tôi có cảm giác như đang bú cả cánh tay tôi. Lỗi dịch sai Ngữ pháp 121 아침저녁으로 젖을 짜서 우유 회사 집유차에 옮기는 일뿐 아니라 착유실을 청소하고, 젖소에게 사료를 챙겨 먹이고, 병에 걸리지 않게 수시로 검사를 받는 일까지, 한두 가지가 아니다. Ngoài việc vắt sữa vào buổi sáng và buổi tối rồi chuyển cho xe thu gom sữa mà còn vô số việc khác như rửa máy vắt sữa, chuẩn bị thức ăn cho bò, phải kiểm tra thường để phòng bệnh. Lỗi dịch gượng Ngữ pháp 122 광수 아버지는 젖소에게 사료를 먹이면서도 겨울에는 반드시 볏짚을 같이 먹였다. Mùa đông bố Kwang Su thường cho bò ăn cả thức ăn gia súc và rơm rạ. Lỗi lược bỏ 123 그놈들이 자기가 왜 죽 어야 하는지 까닭을 알기나 하느냐고. Chúng chắc không thể biết được tại sao mình phải chết Lỗi dịch sai Từ vựng 124 이 년 동안 연거푸 자식같이 애지중지하던 소를 산 채로 묻고 나서 광수 아버지는 목장을 비워 둔 채 날일을 다녔다. Sau khi tự tay chôn sống những con bò mình nâng niu nuôi nấng như con đẻ suốt hai năm trời, bố Kwang Su để trang trại trống trơn và đi lang thang suốt ngày. Lỗi dịch sai Từ vựng 125 광수는 아버지가 집에 돌아올 때마다 텅 빈 착유실과 우사를 보고 운다며 풀 죽어 말했다. Mỗi khi bố về nhà, Kwang Su đều khóc hoặc nói với giọng thiểu não khi nhìn thấy chuồng bò và những chiếc máy vắt sữa trống trơn. Lỗi dịch sai Từ vựng 126 나는 이번만 광수를 용서하기로 했다. Chính vì vậy tôi quyết định lần này sẽ tha thứ cho Kwang Su. Lỗi dịch sai Từ vựng 127 용민이가 다니는 초등학교는 내가 다닐 때부터도 학생 수가 줄어든다는 이유로 폐교 얘기가 들리곤 했다. Số học sinh ở trường tiểu học Yong Min đang học giảm hẳn so với thời của tôi, vì vậy thỉnh thoảng tôi cũng nghe người ta nói về việc đóng cửa trường. Lỗi dịch sai Từ vựng 128 그래서 계절마다 두세 명씩 전학생이 생겼다. Chính vì vậy mỗi mùa có hai, ba đứa mới chuyển đến. Lỗi dịch gượng Ngữ pháp 129 단정하게 교복을 차려입은 우주는 주변 사람들에게 전혀 관심이 없어 보인다. Woo Ju mặc quần áo đồng phục gọn gàng và có vẻ không quan tâm gì đến những người xung quanh. Lỗi dịch gượng Ngữ pháp 130 광수는 언제 어디서든 (130.1) 조용히 나타나는 법이 없다 (130.2). Kwang Su dù bất cứ nơi đâu, dù trong hoàn cảnh nào (130.1) cũng không bao giờ giữ yên lặng (130.2). (130.1) Lỗi dịch sai Từ vựng (130.2) Lỗi dịch sai Từ vựng 131 할머니들은 인사만 하고 말 한마디 없이 음악만 듣고 있는 우주 더러 들으라는 듯 큰 목소리로 광수를 칭찬했다. Các bà cố tình khen Kwang Su thật to như để Woo Ju, đứa chỉ mải nghe nhạc mà không chào họ một tiếng, nghe thấy. Lỗi dịch sai Từ vựng 132 그러나 할머니들이 우리 마을에서 가장 잘났다는 광수의 모습은 사실 눈 뜨고 못 볼 지경이다. Nhưng những bà khen Kwang Su là người đẹp nhất trong làng thực ra đều không còn nhìn thấy rõ. Lỗi dịch sai Từ vựng 133 머리는 아직도 뒤통수가 납작하게 눌려 있는 걸 보니 물만 묻히고 나온 게 틀림없다. Nhìn tóc phía sau đầu xẹp lép thì có thể biết chắc chắn nó chỉ lấy nước vuốt qua. Lỗi dịch sai Từ vựng 134 그 꼴이 보기 싫어 용민이한테로 고개를 돌렸는데 용민이마저 그런 광수를 보고 히죽히죽 웃고 있었다. Tôi ghét cái cảnh đó nên quay sang nhìn Yong Min, nhưng đến cả Yong Min cũng cười hic hic khi nhìn điệu bộ đó của Kwang Su. Lỗi ngữ dụng 135 이제 투정 그만 부려. Bây giờ thì đừng cãi người lớn nữa. Lỗi dịch sai Từ vựng 136 초등학교 버스는 우리보다 십오 분이나 늦게 온다. Xe buýt đến trường cấp 1 đến muộn hơn xe buýt của chúng tôi mười phút. Lỗi dịch sai Từ vựng 137 마을에는 용민이 또래 친구가 없어 (137.1) 안타깝다 (137.2). Tôi thấy hơi buồn (137.2) vì trong làng Yong Min không có những đứa bạn cùng tuổi (137.1). (137.1) Lỗi dịch gượng Ngữ pháp (137.2) Lỗi dịch sai Từ vựng 138 학교에서도 도시 아이들 틈에서 치이는 것 같아 걱정이다. Tôi cũng lo ở trường Yong Min cũng không thể hòa nhập với những đứa đến từ thành phố. Lỗi dịch sai Từ vựng 139 그래서 방과 후에 집으로 돌아오는 시간은 한 시간도 좋고, 두 시간도 좋았다. Sau giờ học chúng tôi thường ở đó một hai tiếng mà quên mất cả thời gian. Lỗi dịch sai Từ vựng 140 여름이면 배나무밭 뒤에 있는 뽕나무밭에서 오디를 따먹느라 손톱 밑이 검게 물들었다. Mùa hè đến là ăn dâu ở bãi dâu tằm đằng sau vườn lê khiến móng tay lúc nào cũng đen thui. Lỗi dịch sai Từ vựng 141 땀을 많이 흘려 목이 마를 때는 아무 밭에나 들어가 오이를 서리해 먹기도 했다. Những lúc toát mồ hôi cảm thấy khát lại vào vườn nào đó hái trộm dưa chuột ăn. Lỗi dịch gượng Biểu hiện 142 네 개로 갈라진 갈색 껍질 속에 솜 사탕처럼 들어 있는 으름 열매의 달콤함은 정말 최고다. Bên ngoài lớp vỏ nâu, bên trong chia làm bốn ngăn, vị ngọt của quả akebi giống như kẹo bông, là thứ vị ngon nhất trên đời. Lỗi dịch sai Ngữ pháp 143 “자, 오늘은 짝을 바꿀 거다.” 우리 담임 선생님은 한 달에 한 번 꼴로 짝을 바꾼다. “Nào, hôm nay sẽ đổi chỗ.” Mỗi tháng cô chủ nhiệm lại đổi chỗ một lần. Lỗi dịch sai Từ vựng Lỗi dịch gượng Biểu hiện 144 마음이 조마조마했다. Tim tôi đập thình thịch. Lỗi dịch sai Từ vựng | en_US |
dc.language.iso | vi | en_US |
dc.publisher | Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng | en_US |
dc.subject | LỖI DỊCH THUẬT TRONG BẢN DỊCH "CẢM ƠN TẤT CẢ" | en_US |
dc.subject | DƯƠNG THANH HOÀI | en_US |
dc.subject | "모두 깜언" | en_US |
dc.subject | 김중미 | en_US |
dc.title | NGHIÊN CỨU NHỮNG LỖI DỊCH THUẬT TRONG BẢN DỊCH "CẢM ƠN TẤT CẢ" CỦA DỊCH GIẢ DƯƠNG THANH HOÀI DỊCH TỪ TÁC PHẨM "모두 깜언" CỦA TÁC GIẢ 김중미 | en_US |
dc.type | Working Paper | en_US |
Appears in Collections: | NCKH CỦA HỌC VIÊN/SINH VIÊN |
Files in This Item:
File | Description | Size | Format | |
---|---|---|---|---|
Dịch thuật - Nguyễn Trần Thảo Nhi - 20CNH02.docx Restricted Access | 564.46 kB | Microsoft Word XML | ![]() Sign in to read |
Due to copyright, some materials are displayed in bibliographic records or for archives only. Using materials in the Digital Library must comply with the Intellectual Property Law.